Đây là Quảng trường Thời đại là một giao lộ chính ở Manhattan

Quảng trường Thời đại (Times Square) là một giao lộ chính ở Manhattan, nối Đại lộ Broadway và Đại lộ Số bảy, kéo dài từ Đường 42 Tây đến Đường 47 Tây, New York.[1] Quảng trường Thời đại gồm những khối nhà nằm giữa Đại lộ Số sáu và Đại lộ Số chín, từ đông sang tây; giữa Đường thứ 39 Tây và Đường thứ 52 Tây, từ nam ra bắc; tạo thành phần phía tây của vùng thương mại Midtown Manhattan.

Du lịch ở Chicago

Chicago nằm ở đông bắc bộ tiểu bang Illinois, trên bờ tây nam của hồ Michigan. Đây là thành phố chính của vùng đô thị Chicago tại Trung Tây Hoa Kỳ và vùng Ngũ Đại Hồ. Chicago nằm trên một đường phân thủy lục địa tại điểm Chuyển tải Chicago, nối lưu vực sông Mississippi và lưu vực Ngũ Đại Hồ. Thành phố nằm bên hồ nước ngọt Michigan rộng lớn, và hai sông là sông Chicago qua trung tâm và sông Calumet chảy qua vùng công nghiệp South Side.[42][43] Lịch sử và kinh tế của Chicago gắn chặt với hồ Michigan. Phần lớn vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy của khu vực trước đây sử dụng sông Chicago, song hiện nay các tàu to chở hàng trên hồ sử dụng cảng Lake Calumet tại South Side. Hồ Michigan giúp điều hòa khí hậu cho Chicago; khiến cho các khu phố ven hồ có chút ấm hơn vào mùa đông và mát hơn vào mùa hạ.

Đây là Trang Web của Chi cục Kiểm Lâm Thanh Hóa

Vui lòng truy cập địa chỉ website "http://klth.org.vn/"

Đây là Cầu Tháp Luân Đôn

Cầu Tháp Luân Đôn (tiếng Anh: Tower Bridge) là một công trình kết hợp cầu treo với cầu nâng (có thể mở ra cho tàu thuyền lớn đi qua) bắc qua sông Thames tại Luân Đôn, thủ đô Vương quốc liên hiệp Anh. Cây cầu được hoàn thành năm 1894, nằm liền với Tháp Luân Đôn, trở thành một biểu tượng nổi tiếng, gắn liền với thành phố Luân Đôn và với nước Anh nói chung. Đây cũng là cây cầu cuối cùng xuôi dòng Thames nằm trong địa phận thành phố. Cầu thường hay bị nhầm lẫn với Cầu Luân Đôn (London Bridge) nằm cách nó không xa.

Đây là trang Web của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thanh Hóa

Vui lòng truy cập địa chỉ sau "http://snnptnt.thanhhoa.gov.vn"

Powered By Blogger

Thứ Tư, 17 tháng 1, 2018

Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc?

Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc?

Print Friendly, PDF & Email
500_tranh-tet
Tác giả: Nguyễn Hải Hoành
Tiếng ta còn thì nước ta còn!
Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1- Đồng hóa tự nhiên, tức quá trình dân tộc A trong giao tiếp với dân tộc B, do chịu ảnh hưởng lâu dài của B mà A tự nhiên dần dần mất bản sắc của mình, cuối cùng bị B đồng hóa; đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2- Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc nhỏ yếu hơn chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của một dân tộc lớn mạnh hơn; đây là một tội ác.
Đồng hóa dân tộc chủ yếu diễn ra dưới hình thức đồng hóa văn hóa, trong đó chủ thể đồng hóa thường là một nền văn hóa mạnh và tiên tiến (như đông dân hơn, kinh tế phát triển hơn, đã có chữ viết, có các hệ tư tưởng), đối tượng đồng hóa thường là nền văn hóa yếu và lạc hậu hơn. Đồng hóa ngôn ngữ là công cụ đồng hóa văn hóa thông dụng nhất, quan trọng nhất, hiệu quả nhất. Một dân tộc bị mất tiếng nói mẹ đẻ của mình và phải nói tiếng của một dân tộc khác thì không còn giữ được bản sắc dân tộc nữa.
Trong lịch sử, các nền văn hóa yếu thường bị nền văn hóa mạnh đồng hóa. Thời cổ, Trung Quốc là quốc gia đông người nhất và có nền văn minh tiên tiến nhất châu Á. Nền văn hóa Hán ngữ của họ có sức đồng hóa rất mạnh. Dân tộc Hồi ở phía Tây nước này, ngày xưa dùng chữ A Rập, sau nhiều năm giao lưu với người Hán cũng toàn bộ dùng chữ Hán và nói tiếng Hán. Ngay cả các dân tộc nhỏ nhưng mạnh về quân sự, sau khi thôn tính và thống trị Trung Quốc được ít lâu cũng bị nền văn hóa Hán ngữ đồng hóa.
Thí dụ dân tộc Mãn sau khi chiếm Trung Quốc và lập triều đại nhà Thanh đã lập tức tiến hành đồng hóa dân tộc Hán: cưỡng bức đàn ông Hán phải cạo nửa đầu và để đuôi sam, phải bỏ chữ Hán mà chỉ dùng chữ Mãn làm chữ viết chính thức trên cả nước. Nhưng đến giữa đời Thanh, tức sau khoảng 100 năm thì tiếng Mãn cùng chữ Mãn đều biến mất, từ đó trở đi người Mãn chỉ dùng tiếng Hán và chữ Hán, nghĩa là họ lại bị đồng hóa ngược bởi chính nền văn hóa của dân tộc bị họ cai trị lâu tới 267 năm!
Các nước đế quốc thực dân sau khi chiếm thuộc địa đều cưỡng chế đồng hóa ngôn ngữ dân bản xứ, quá trình này diễn ra khá nhanh, nhìn chung sau 5-6 thế hệ (mỗi thế hệ 25 năm), tiếng nói của người bản xứ đã bị thay bằng ngôn ngữ của nước cai trị. Đầu thế kỷ XV, Brazil bị Bồ Đào Nha chiếm, chẳng bao lâu tiếng Bồ trở thành ngôn ngữ chính thức duy nhất của người Brazil. Nhiều thuộc địa Pháp ở châu Phi như Bénin, Togo, Sénegan… dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính duy nhất. Năm 1918 nước ta bắt đầu dạy tiếng Pháp ở lớp cuối tiểu học, 10-20 năm sau toàn bộ học sinh trung học cơ sở trở lên đến trường đã chỉ nói tiếng Pháp, giáo viên chỉ giảng dạy bằng tiếng Pháp. Nếu cứ thế dăm chục năm nữa thì có lẽ Việt Nam đã trở thành nước nói tiếng Pháp.
Thế nhưng sau hơn 1.000 năm bị bọn phong kiến người Hán thống trị và cưỡng bức đồng hóa, dân tộc Việt Nam vẫn không bị Hán hóa, vẫn giữ nguyên được nòi giống, tiếng nói và phong tục tập quán.
Đây quả là một điều kỳ diệu có lẽ chưa dân tộc nào khác làm được. Đáng tiếc là chưa thấy nhiều người quan tâm nghiên cứu vấn đề này, một thành tựu vĩ đại đáng tự hào nhất của dân tộc ta (nói cho đúng là của tổ tiên ta thôi, còn chúng ta bây giờ thua xa các cụ).
Vì sao tổ tiên ta có thể làm được kỳ tích ấy ? Có người nói đó là do dân ta giàu tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, xã hội có cơ chế làng xã bền chặt, v.v… Nói như vậy có lẽ còn chung chung, nếu đi sâu phân tích tìm ra được nguyên nhân cụ thể thì sẽ giúp ích hơn cho việc phát huy các truyền thống quý báu của dân tộc ta. Thực tế cho thấy tổ tiên ta giành được thắng lợi chống đồng hóa không phải bằng đấu tranh vũ trang mà chủ yếu bằng tài trí.
Xin nói thêm rằng chính người Trung Quốc cũng rất quan tâm vấn đề này. Chúng tôi đã thử nêu lên mạng Bách Độ (Baidu) của họ câu hỏi “Vì sao Trung Quốc thống trị Việt Nam hơn 1.000 năm mà Việt Nam không bị đồng hóa?”
Từ hàng triệu kết quả, có thể thấy đa số dân mạng Trung Quốc đều có chung một thắc mắc lớn: Vì sao bị Trung Quốc thống trị lâu thế mà người Việt Nam vẫn không nói tiếng Trung Quốc? Nói cách khác, họ coi đồng hóa ngôn ngữ là tiêu chuẩn đồng hóa quan trọng nhất và đều thừa nhận Trung Quốc đã không đồng hóa nổi Việt Nam. Họ tỏ ra tiếc nuối về sự kiện Việt Nam sau hơn 10 thế kỷ từng là quận huyện của Trung Quốc, từng dùng chữ Hán hàng nghìn năm mà rốt cuộc lại trở thành một quốc gia độc lập, dùng chữ Latin hóa, ngày nay là nước chống lại mạnh nhất chính sách xâm lấn Biển Đông của Bắc Kinh.
Do hiểu biết Việt Nam rất ít, thậm chí hiểu sai, hầu hết dân mạng Trung Quốc không tìm được lời giải thắc mắc trên, kể cả người tỏ ra am hiểu lịch sử nước ta. Họ nêu các lý do:
– Văn hóa Việt Nam có trình độ Hán hóa cao(?), người Việt rất hiểu và không phục Trung Quốc;
– Việt Nam ở quá xa Trung nguyên, khí hậu nóng, quan lại người Hán ngại sang Việt Nam làm việc, đã sang thì chỉ lo làm giàu, không lo đồng hóa dân bản xứ;
– Các nhân vật tinh hoa Trung Quốc như Lưu Hy, Hứa Tĩnh, Hứa Từ, Viên Huy (劉熙、許靖、許慈、袁徽) chạy loạn sang Việt Nam đã giúp nước này có nền văn hóa không kém Trung Quốc;
– Người Hán di cư đến Việt Nam đều bị người bản xứ đồng hóa v.v…
Nói chung họ đều chưa thấy, hay cố ý lờ đi nguyên nhân chính là ở tài trí của người Việt.
Nhưng họ nói người Việt Nam hiểu Trung Quốc là đúng. Do sớm hiểu rõ ý đồ thâm hiểm của phong kiến người Hán muốn đồng hóa dân tộc ta nên tổ tiên ta đã kịp thời đề ra đối sách. Cụ thể là đã tìm ra cách giữ gìn được tiếng nói của dân tộc mình trong quá trình bị bọn thống trị người Hán cưỡng bức học chữ Hán.
Mấy nghìn năm sau, một học giả lớn của dân tộc ta tóm tắt bài học lịch sử này trong một câu nói rất chí lý: “Tiếng ta còn thì nước ta còn!”
Sau khi chiếm nước ta (203 tr. CN), Triệu Đà đã ép buộc dân ta học Hán ngữ, nhằm đồng hóa họ bằng ngôn ngữ. Có lẽ đây là thời điểm muộn nhất chữ Hán vào nước ta.[1] Sách “Việt giám Thông khảo Tổng luận” do Lê Tung viết năm 1514 có chép việc họ Triệu mở trường dạy người Việt học chữ Hán.[2] Về sau, tất cả các triều đại người Hán cai trị Việt Nam đều thi hành chính sách đồng hóa. Triều nhà Minh còn tìm cách tiêu diệt nền văn hóa của ta, như tiêu hủy toàn bộ các thư tịch do người Việt viết, bắt nhân tài, thợ giỏi người Việt sang Trung Hoa phục dịch.
Như vậy, dân tộc ta buộc phải chấp nhận học chữ Hán từ rất sớm (trước Triều Tiên, Nhật Bản nhiều thế kỷ). Do hiểu biết người Hán nên tầng lớp tinh hoa người Việt đã nhanh chóng nhận ra nếu cứ học như thế thì cuối cùng tiếng Việt sẽ bị thay bằng tiếng Hán, dân ta sẽ trở thành một bộ phận của Trung Quốc.
Vậy cha ông ta đã dùng cách nào để giữ được tiếng nói của dân tộc trong hơn 1.000 năm bị cưỡng bức học và dùng chữ Hán cũng như phải tiếp thu nhiều yếu tố của nền văn minh Trung Hoa?
Vấn đề này rất cần được làm sáng tỏ để từ đó hiểu được truyền thống quý báu của dân tộc ta. Dưới đây chúng tôi xin mạo muội góp vài ý kiến nông cạn, nếu có sai sót mong quý vị chỉ bảo.
Đọc chữ Hán bằng tiếng Việt: Một sáng tạo xuất sắc của tổ tiên ta
Chữ viết hình vuông là một phát minh lớn của nền văn minh Trung Hoa, được người Hán chính thức sử dụng từ đời nhà Thương (thế kỷ 16 đến 11 tr. CN), ngày nay phổ biến được gọi là chữ Hán.
Thực ra trong hơn 2.000 năm kể từ ngày ra đời, thứ chữ viết ấy chỉ được người Hán gọi là chữ 字 (tự) hoặc văn tự 文字. Đến đời Đường (thế kỷ VII) cái tên 漢字 (Hán tự, tức chữ Hán) mới xuất hiện lần đầu trong sách Bắc Sử 北史 do Lý Diên Thọ biên soạn.[3] Sau đó người Nhật và người Triều Tiên cũng gọi thứ chữ này là Hán tự: tiếng Nhật đọc Kanji, tiếng Triều Tiên đọc Hantzu. Cho tới nay Bộ Giáo dục Đài Loan vẫn chỉ gọi là Quốc tự 國字.
Vì thứ chữ ấy khi vào Việt Nam còn chưa có tên nên tổ tiên ta bèn đặt cho nó cái tên là chữ Nho, với ý nghĩa là chữ của người có học, bởi lẽ Nho 儒 là từ dùng để gọi những người có học. Dân ta gọi người dạy chữ là thầy đồ Nho, bút và mực họ dùng để viết chữ là bút Nho và mực Nho.[4]
Đây quả là một điều độc đáo, bởi lẽ Hán ngữ xưa nay chưa hề có khái niệm chữ Nho; tất cả từ điển Hán ngữ cổ hoặc hiện đại và các từ điển Hán-Việt đều không có mục từ Nho tự 儒字 với ý nghĩa là tên gọi của chữ Hán.
Có thể suy ra: Việt Nam thời xưa không có chữ viết (hoặc đã có chữ Việt cổ nhưng chưa hoàn thiện, chưa diễn tả được các khái niệm trừu tượng), vì thế khi tiếp xúc với chữ Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã nhận thấy đây là một phương tiện cực kỳ hữu ích dùng để truyền thông tin được xa và lâu, không bị hạn chế về khoảng cách và thời gian như cách truyền thông tin bằng tiếng nói, do đó họ đã sớm nghĩ tới việc mượn thứ chữ này làm chữ viết của dân tộc ta.
Muốn vậy dân ta phải biết chữ Hán, một thứ ngoại ngữ. Làm cho dân chúng học và dùng được một ngoại ngữ là việc hoàn toàn bất khả thi ở thời ấy. Hơn nữa chữ Hán cổ khó đọc (vì không biểu âm), khó viết (vì có nhiều nét và cấu tạo phức tạp), khó nhớ (vì có quá nhiều chữ), thuộc loại chữ khó học nhất trên thế giới.
Nói chung, mỗi chữ viết đều có một âm đọc; không ai có thể xem một văn bản chữ mà không vừa xem vừa đọc âm của mỗi chữ (đọc thầm hoặc đọc thành tiếng). Mỗi chữ Hán đều có một âm tiếng Hán; muốn học chữ Hán tất phải đọc được âm của nó. Viết chữ Hán khó, tuy thế tập nhiều lần sẽ viết được, nhưng do khác biệt về hệ thống ngữ âm, người Việt nói chung khó có thể đọc được các âm tiếng Hán.
Ngoài ra Trung Quốc là một nước rộng lớn, đông dân; cho tới trước nửa cuối thế kỷ 20 cả nước vẫn chưa thống nhất được âm đọc của chữ. Loại chữ này chỉ thể hiện ý nghĩa, không thể hiện âm đọc, cho nên nhìn chữ mà không biết cách đọc. Người dân các vùng xa nhau thường đọc chữ Hán theo âm khác nhau, thậm chí khác xa nhau, vì thế thường không hiểu nhau nói gì. Các thứ tiếng địa phương ấy ta gọi là phương ngữ, người Hán gọi là phương ngôn (方言); Hán ngữ hiện có 7 phương ngữ lớn, nhiều phương ngữ nhỏ (次方言).
Không thống nhất được âm đọc chữ Hán là một tai họa đối với người Hán. Với người nước ngoài học chữ Hán cũng vậy: khi mỗi ông thầy Tàu đọc chữ Hán theo một âm khác nhau thì học trò khó có thể học được thứ chữ này.
Để có thể học được chữ Hán mà không cần đọc âm tiếng Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã sáng tạo ra một giải pháp xuất phát từ ý tưởng: nếu người Hán khác vùng có thể tự đọc chữ Hán theo âm riêng của vùng, thì ta cũng có thể đọc chữ Hán theo âm riêng của người Việt.
Muốn vậy, mỗi chữ Hán được tổ tiên ta quy ước đọc bằng một (hoặc vài, tùy chữ Hán gốc) âm tiếng Việt xác định có gốc là âm chữ Hán — ngày nay gọi là âm Hán-Việt, nghĩa là mỗi chữ Hán đều được đặt cho một (hoặc vài) cái tên tiếng Việt xác định, gọi là từ Hán-Việt.
Thí dụ chữ 水 được đặt tên là chữ Thủy, âm đọc thủy khác với âm đọc shuẩy của người Hán. Chữ 色, tiếng Hán đọc sưa, ta đọc sắc. Thủy và Sắc là từ Hán-Việt, cũng là âm Hán-Việt của 水và色.
Âm/từ Hán-Việt được chọn theo nguyên tắc cố gắng bám sát âm Hán ngữ mà tổ tiên ta từng biết.[5] Như chữ 終, âm Hán và âm Hán-Việt đều đọc chung, tức hệt như nhau; chữ 孩, Hán ngữ đọc hái, ta đọc Hài, gần như nhau. Nhưng hầu hết chữ đều có âm Hán-Việt khác âm Hán. Như 集 âm Hán là chí, ta đọc Tập ; 儒 giú, ta đọc Nho. Có chữ âm Hán như nhau mà âm Hán-Việt có thể như nhau hoặc khác nhau, như 同 và 童, âm Hán đều là thúng, từ Hán-Việt đều là Đồng ; nhưng 系 và 細, âm Hán đều là xi, lại có hai từ Hán-Việt khác nhau là Hệ và Tế. Chữ Hán có hai hoặc nhiều âm thì có thể có một, hai hoặc nhiều âm/từ Hán-Việt, như 都 có hai âm Hán là tâu và tu, lại chỉ có một âm/từ Hán-Việt là Đô ; 少 có hai âm Hán shảo và shao, cũng có hai âm/từ Hán-Việt là Thiểu (trong thiểu số) và Thiếu (trong thiếu niên).
Thứ chữ Hán đọc bằng âm Hán-Việt này được dân ta gọi là chữ Nho. Vì đọc chữ bằng tiếng mẹ đẻ nên chữ Nho trở nên dễ học đối với người Việt: chỉ cần học mặt chữ, nghĩa chữ và cách viết văn chữ Hán mà không cần học phát âm cũng như học nghe/nói tiếng Hán. Vì thế thời xưa ở nông thôn nước ta không hiếm người 6-7 tuổi đã biết chữ Nho.[6] Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) 12 tuổi đỗ Cử nhân, 16 tuổi đỗ Hoàng giáp (Tiến sĩ). Người không biết chữ cũng có thể học truyền miệng các tác phẩm ngắn có vần điệu, như Tam Thiên Tự.[7]
Người biết chữ Nho có thể xem hiểu các thư tịch chữ Hán, viết văn chữ Hán; tuy không nói/nghe được tiếng Hán nhưng vẫn có thể dùng bút đàm để giao tiếp bình thường với người Hán. Chỉ bằng bút đàm chữ Nho, Phan Bội Châu giao tiếp được với các nhà cải cách Trung Quốc và Nhật Bản, đưa được mấy trăm thanh niên Việt Nam sang Nhật học quân sự chính trị, chuẩn bị về nước đánh đuổi thực dân Pháp.
Cần nhấn mạnh: vì âm/từ Hán-Việt không thể ghi âm hầu hết từ ngữ tiếng Việt cho nên cách đọc chữ Hán theo âm Việt hoàn toàn không thể biến tiếng Việt thành một phương ngữ của Hán ngữ,[8] và dân ta vẫn hoàn toàn nói và nghe bằng tiếng mẹ đẻ.
Chữ Nho chỉ dùng để viết mà thôi, và chỉ được giới tinh hoa (trí thức và quan lại người Việt) dùng trong giao dịch hành chính, ngoại giao, lễ tiết, chép sử, giáo dục, thi cử, sáng tác văn thơ. Còn ở Trung Quốc, những người nói một trong các phương ngữ tiếng Hán đều có thể dùng chữ Hán để ghi âm được toàn bộ tiếng nói của phương ngữ ấy, nghĩa là họ có thể dùng chữ Hán để ghi âm tiếng mẹ đẻ.
Dĩ nhiên cách đọc tiếng Việt chỉ có thể làm với chữ Hán, là loại chữ biểu ý (ghi ý), chứ không thể làm với chữ biểu âm (ghi âm). Ngày nay âm/từ Hán-Việt của mỗi chữ Hán có thể dễ dàng viết ra bằng chữ Quốc ngữ (một loại chữ ghi âm), nhưng ngày xưa, khi chưa có bất kỳ loại ký hiệu nào ghi âm tiếng nói, tổ tiên ta chỉ có thể truyền khẩu. Thế mà lạ thay, việc dạy chữ Nho đã được mở rộng, ở thời Nguyễn là đến tận làng, có thể suy ra tỷ lệ người biết chữ Hán của dân ta cao hơn Trung Quốc!
Chỉ bằng cách truyền miệng mà người Việt thời xưa đã tạo ra được một bộ từ Hán-Việt tương ứng với bộ chữ Hán khổng lồ — bộ chữ này trong Tự điển Khang Hy (1716) có hơn 47 nghìn chữ; Tiêu chuẩn Nhà nước Trung Quốc GB18030 (2005) có 70.217 chữ; Trung Hoa Tự hải có 85.568 chữ Hán.
Quá trình tiến hành Việt Nam hóa phần ngữ âm của chữ Hán kéo dài trong hàng nghìn năm, là một thành tựu văn hóa vĩ đại. Có thể phỏng đoán đó là một quá trình mở, do nhiều thế hệ người Việt thực hiện, thể hiện sức sáng tạo bất tận của tổ tiên ta.
Nhật và Triều Tiên cũng mượn dùng chữ Hán, nhưng họ tự đến Trung Hoa nghiên cứu đem chữ Hán về dùng chứ không bị ép dùng từ sớm như ta. Họ cũng đọc chữ Hán theo âm bản ngữ của dân tộc mình — giải pháp do người Việt nghĩ ra và thực hiện trước họ nhiều thế kỷ.
Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Nguyễn Tài Cẩn nói: “Cách đọc Hán Việt là một tài sản của riêng dân tộc ta. Có dùng nó khi đọc Đạo đức kinh, Kinh Thi, Sở từ… thì mới phù hợp với thói quen dân tộc, tiện lợi cho dân tộc. Theo ý chúng tôi, dùng cách đọc Hán Việt ở những trường hợp này là một điều hết sức phù hợp với khoa học. Đọc theo lối Hán Việt thì dễ hiểu hơn, bởi lẽ ngay trong tiếng Việt đã có khá nhiều tiếng Hán Việt quen thuộc, chỉ đọc lên, nghe được, là hiểu được; đọc theo lối Hán Việt thì cũng thuận tai hơn… ”.[9]
Đúng thế. Thí dụ từ 社會, người Anh biết Hán ngữ đọc shưa huây, người Anh không biết Hán ngữ khi nghe âm đọc ấy sẽ chẳng hiểu gì; còn người Việt biết Hán ngữ đọc “xã hội”, người Việt không biết Hán ngữ nghe đọc sẽ hiểu ngay nghĩa của từ; âm “xã hội” thuận tai, dễ đọc dễ nhớ hơn âm shưa huây. Rõ ràng cách đọc Hán-Việt thật tiện lợi cho người Việt. Trong bài sau, chúng tôi sẽ nói thêm về vấn đề này.
Ngày nay mỗi chữ Hán trong tất cả các từ điển Hán-Việt đều phải ghi kèm từ Hán-Việt tương ứng. Hán-Việt Tự điển của Thiều Chửu có kèm Bảng tra chữ theo âm Hán-Việt, dùng tra chữ Hán rất tiện và nhanh hơn tra theo bộ thủ. Người có sáng kiến làm Bảng này là bà Nguyễn Thị Quy (1915-1992), em ruột Thiều Chửu, khi bà lần đầu xuất bản Tự điển nói trên tại Sài Gòn năm 1966.[10]
Như vậy, bằng cách đọc chữ Hán theo âm tiếng Việt, tổ tiên ta đã thành công trong việc mượn chữ Hán để dùng làm chữ viết chính thức của dân tộc mình và gọi nó là chữ Nho. Sự vay mượn này chẳng những không làm cho tiếng Việt bị biến mất mà còn làm cho nó phong phú hơn rất nhiều, trở thành một ngôn ngữ cực kỳ linh hoạt, có thể tiếp nhận và Việt hóa hầu như toàn bộ từ ngữ mới xuất hiện trong tiến trình phát triển của loài người toàn cầu.
Chữ Nho khác chữ Hán ở phần ngữ âm: nó là chữ Hán được đọc bằng âm tiếng Việt chứ không đọc bằng âm tiếng Hán như chữ người Hán dùng. Nói cách khác, chữ Nho là chữ Hán đã được Việt Nam hóa phần ngữ âm; còn về tự dạng và nghĩa chữ thì cơ bản như chữ Hán của người Hán. Vì thế có người gọi chữ Nho là chữ Hán-Việt.
Rõ ràng nó là chữ của người Việt Nam, đã Việt Nam hóa phần ngữ âm, không thể coi là chữ của người Hán. Chữ Nho là chữ viết chính thức của dân tộc ta trong hơn 2.000 năm, kể từ thời điểm muộn nhất là bắt đầu thời Bắc thuộc cho tới khi được thay thế bằng chữ Quốc ngữ cực kỳ ưu việt, được chính các nhà Nho tiên tiến tán thưởng và đi tiên phong ủng hộ sự phổ cập Quốc ngữ.
Cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt đã đáp ứng nhu cầu giao tiếp bằng bút đàm giữa quan lại cấp thấp người Việt với quan lại cấp cao người Hán, khiến cho bọn thống trị người Hán vẫn thực thi được quyền lực cai trị dân bản xứ. Hơn nữa, cách đó làm cho việc phổ cập chữ Hán trong người Việt trở nên dễ dàng, tức đáp ứng yêu cầu dạy chữ Hán của các vương triều người Hán. Vì vậy chúng không còn lý do cưỡng chế dân ta phải học nghe/nói tiếng Trung Quốc.
Cách đọc chữ Hán như trên đã có tác dụng không ngờ là làm cho người Hán dù có cai trị Việt Nam bao lâu thì cũng không thể tiêu diệt nổi tiếng Việt và Hán hóa được dân tộc ta. Có thể là khi bắt đầu sáng tạo cách đọc ấy, tổ tiên ta chưa nghĩ tới điều đó, nhưng rốt cuộc sáng tạo xuất sắc này đã giúp dân tộc ta tránh được nguy cơ bị người Hán đồng hóa. Đây là một thành công vĩ đại!
Đáng tiếc là hiện không thấy có thư tịch nào ghi chép ai nghĩ ra và thời điểm nào xuất hiện cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt. Có thể cho rằng sáng kiến đó ra đời khi chữ Hán bắt đầu vào nước ta, tức muộn nhất là khoảng thế kỷ 2 – 1 tr.CN.
Có ý kiến cho rằng cách đọc Hán-Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, cụ thể là Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng hai thế kỷ 8, 9.
Nếu hiểu ý kiến này theo nghĩa đến đời Đường mới xuất hiện cách đọc Hán-Việt thì e rằng khó có thể giải đáp câu hỏi: vậy thì trong thời gian khoảng ngót 1000 năm trước đó người Việt đọc chữ Hán bằng cách nào? Đến đời Đường, người Hán đã thống trị Việt Nam được hơn 9 thế kỷ, quá thừa thời gian để họ hoàn toàn đồng hóa người Việt bằng văn hóa, ngôn ngữ, khi ấy tiếng Việt đã bị biến mất, sao còn có thể xuất hiện cách đọc Hán-Việt?
Phải chăng nên hiểu ý kiến trên theo nghĩa: đến thời Đường, cách đọc Hán-Việt được hoàn thiện nhờ học tập Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ 8 – 9.
***
Có thể kết luận: dân tộc Việt Nam tồn tại được và không bị đồng hóa sau hơn 1.000 năm chịu sự thống trị của một quốc gia liền kề có nền văn hóa lớn mạnh là nhờ đã phát huy bản lĩnh trí tuệ của mình, thể hiện ở chỗ sáng tạo được biện pháp đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, qua đó đã vô hiệu hóa chủ trương đồng hóa ngôn ngữ của các triều đại phong kiến Trung Hoa.
Có những người Hán đã nhận ra bản lĩnh trí tuệ ấy của người Việt.
Năm 987, nhà Tống cử Lý Giác李覺 đi sứ sang Hoa Lư, Việt Nam, được hai vị Quốc sư Khuông Việt và Pháp Thuận đón tiếp, đàm phán các vấn đề quốc gia đại sự và họa thơ. Khi về nước, Lý Giác tặng vua Lê Đại Hành một bài thơ, trong có câu: “Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu 天外有天應遠照”, nghĩa là: “Ngoài trời này còn có trời khác, nên nhìn thấy”. Nói cách khác, thế giới này đâu phải chỉ có một mặt trời Trung Hoa mà còn có mặt trời Việt Nam!
Câu thơ cho thấy Lý Giác đã bước đầu nhận ra bản lĩnh trí tuệ của người Việt. Đúng thế, tổ tiên ta thật vô cùng tài giỏi, nếu không thì còn đâu giang sơn tươi đẹp này!
Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.
—————————
[1] Nói là “muộn nhất” vì còn có các quan điểm như: chữ Hán vào VN qua con đường giao thương hoặc truyền bá tôn giáo từ lâu trước khi nước ta bị Triệu Đà chiếm; VN đã có chữ viết từ đời Hùng Vương (Hoàng Hải Vân: Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động).
[2]宋代中越文学交流述论 có câu 黎嵩 “越鑑通考總論” viết : 趙佗 “建立學校,導之經義。由此已降,四百余年,頗有似類” .
[3] Bài 汉字名称的来由 (http://blog.sina.com.cn) và một số bài khác có viết: Từ  Hán tự  漢字xuất hiện sớm trong Bắc sử, quyển 9 [biên soạn xong năm 659]. 汉字一词早出自《北史》卷九本纪第九, “章宗一”:“十八年,封金源郡王.始习本朝语言小字, 及汉字经书,以进士完颜匡、司经徐孝美等侍读”. Từ Hán tự xuất hiện nhiều trong sách Kim sử 金史 (năm 1345) đời Nguyên. Ở đời nhà Thanh (1644-1911), thời kỳ đầu do chữ viết chính thức của chính quyền không phải là chữ Hán mà là chữ Mãn (满文) nên phải dùng tên gọi chữ Hán 漢字 để chỉ loại văn tự truyền thống của người Hán, nhằm phân biệt với chữ Mãn.
[4] Có ý kiến nói do thời bấy giờ thứ chữ đó được dùng để dạy dân ta học Nho giáo 儒教 nên dân ta gọi nó là chữ Nho. Nhưng Nho 儒với nghĩa “người có học” xuất hiện trước rất lâu, sau đó mới dùng chữ ấy vào từ Nho giáo để gọi học thuyết của Khổng Tử. Cùng lý do ấy, chữ Khổng có trước khi Khổng Tử ra đời.
[5] Khó có thể biết đó là âm tiếng địa phương nào ở TQ. Trong đó có những âm tiếng Quảng Đông, như nhất, nhì, shập, học chập khi đọc các chữ  一,二,十,學習 (âm Hán-Việt đọc nhất, nhị, thập, học tập).
[6] Thí dụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) 8 tuổi học chữ Nho, 13 tuổi văn hay chữ tốt, 24 tuổi đậu Giải Nguyên, 28 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ. Phan Bội Châu (1867-1940) 6 tuổi học ba ngày đã thuộc lòng 1440 chữ Nho trong Tam Tự Kinh. Trần Gia Minh tác giả sách Huyền thoại Kim thiếp Vũ Môn 5-6 tuổi đã học chữ Nho truyền khẩu từ người ông mù lòa.
[7] Do nhà Nho Đoàn Trung Còn sáng tác, là một bài vè dài, mỗi câu hai âm, đọc lên có vần điệu dễ nhớ.
[8] Năm 1867, G. Aubaret trong cuốn Grammaire annamite từng sai lầm nhận định: “Tiếng bình dân nói trong vương quốc An Nam là một phương ngữ của tiếng Trung Quốc” (trích dẫn theo Phạm Thị Kiều Ly trong “Ghi âm tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ”, sách “Tiếng Việt 6”, Nxb Tri Thức, 2015).
[9] Nguyễn Tài Cẩn : Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt.
[10] Dẫn theo Lê Quốc Trinh, con trai bà Quy và là người trực tiếp tham gia làm Bảng tra này.

Nhật bản – đất nước đến thang máy cũng lịch sự

Nhật bản – đất nước đến thang máy cũng lịch sự

Thời gian đăng: 04/05/2017 17:17
Ở bất cứ đất nước nào, người ta cũng được giáo dục về phép lịch sự, tuy nhiên ở Nhật Bản phép lịch sự đã trở thành nét văn hóa, trở thành thói quen. Nếu không tìm hiểu trước về đất nước xinh đẹp này ắt hẳn bạn sẽ nghĩ người Nhật lịch sự đến mức lạ thường.




Nhật Bản - nơi những đứa trẻ được học phép lịch sự ngay khi còn nhỏ

Đến với đất nước Nhật Bản, đất nước của những công nghệ thông minh hàng đầu thế giới. Có lẽ những công nghệ này được con người nơi đây sáng tạo ra nên nó cũng lịch sự đến lạ. Chẳng khó để bạn có thể bắt gặp một chiếc taxi tự động mở cửa khi khách tới trên đường phố nơi đây, nhà vệ sinh tự bật nắp khi có người tới hay chiếc thang máy nói lời xin lỗi khi để khách chờ đợi lâu. Đồ vật cũng toát lên vẻ lịch sự, không biết con người nơi đây họ còn lịch sự đến nhường nào?




Thang máy ở Nhật Bản cũng biết "nói" lời xin lỗi
  
1. “Vây cá mập lịch sự”

Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật được mệnh danh là những người lịch sự nhất thế giới. Cách cư xử, thói quen hằng ngày đã làm nên một Nhật Bản như vậy. Khi vượt qua bất kỳ một ai đó hay xem giữa 2 người đang nói chuyện, người Nhật Bản sẽ thực hiện hành động “vây cá mập lịch sự”. Sở dĩ có tên gọi đặc biệt như vậy bởi vì họ sẽ đưa 1 bàn tay ra phía trước mặt như cắt ngang qua không khí trông như chiếc vây cá mập lướt nhẹ trên mặt biển .

2. Cúi chào





Việc cúi chào đánh giá thái độ của cả một con người

Bạn nghĩ rằng hành động cúi chào giữa người với người là đơn giản? Vậy thì bạn đã hoàn toàn sai, ở Nhật người ta phân chia theo nhiều kiểu cúi chào khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh cũng như đối tượng. Nếu không muốn bị xem là bất lịch sự thì hãy học ngay những cách cúi chào sao cho đúng. Cách cúi chào đơn giản nhất  được thực hiện trong tư thế lưng thẳng, đôi tay dọc theo thân người đối với nam và nữ thì đặt hai tay ở vạt áo trước. Mắt luôn hướng xuống trong khi cúi đầu. và nên biết rằng khi ta cúi đầu càng lâu, càng thấp thì càng thể hiện sự tôn trọng của người chào bấy nhiêu.  Tiếp đó người Nhật phân ra 3 mức độ chào: chào kiểu eshaku ( khẽ cúi đầu ), keirei ( kiểu cúi chào bình thường ), saikeirei ( kiểu cúi chào trang trọng nhất.

3. Liên tục cúi đầu khi nghe điện thoại





Cúi đầu khi nghe điện thoại thể hiện sự tôn trọng , khiêm nhường

Để thể hiện sự tôn trọng cũng như thái độ khiêm tốn, người Nhật có thói quen cúi đầu khi nói chuyện. Dường như đã trở thành thói quen nên ngay cả khi nghe điện thoại, người dân Nhật Bản vẫn thực hiện hành động này liên tục dù cho người ở đầu dây bên kia hoàn toàn không thể nhìn thấy.

4. Lịch sự ngay cả khi tìm kiếm chỗ ngồi nơi công cộng





Bài học xếp hàng nơi công cộng của người Nhật

Ngay cả khi chen lấn trong đám đông nơi tàu điện ngầm thì con người Nhật Bản vẫn toát lên thái độ lịch sự. Nếu muốn xác thực, bất kỳ một buổi sáng nào bạn cũng có thể rag a tàu điện ngầm, nơi hàng nghìn con người dù bận rộn đến đâu cũng kiên nhẫn xếp thành hàng dài đợi tới lượt lên tàu.

5. Không tạo bất cứ tiếng động nào khi đi tàu điện ngầm, xe buýt.




Sự im tĩnh chẳng lạ thường ở tàu điện Nhật Bản

Khi di chuyển bằng các phương tiện công cộng như tàu điện ngầm, xe buýt,… ở Nhật Bản thì bạn tuyệt đối không nên gây ra bất cứ một tiếng ồn nào nếu không muốn nhận những ánh nhìn không mấy thiện cảm của những người xung quanh. Bạn có thể nghe nhạc, đọc báo, thậm chí là làm việc, chỉ cần bạn làm nó trong im lặng.

6. Xem hết phần giới thiệu cuối phim ở rạp

Dù xem phim ở rạp là hoạt động vui chơi giải trí nhưng họ cũng không vì thế mà mất đi vẻ lịch sự. Nếu như ở Việt Nam, nhiều ngươi không những không xem phần giới thiệu cuối phim, thậm chí nhiều người còn bỏ về ngang chừng khi bộ phim đang chiếu giở. Người Nhật vô cùng kiêng kị điều này, bởi lẽ họ tin rằng để sản xuất ra bộ phim là cả một sự cố gắng không ngừng của hàng trăm con người. Việc xem hết phần giới thiệu cuối phim là để ghi nhận những nỗ lực, công sức của đoàn làm phim.
Để có được những thói quen lịch sự như vậy người Nhật Bản phải trải qua cả một quá trình rèn luyện và học hỏi ngay từ khi còn nhỏ. Con người đất nước nơi đây kiên cường, giỏi giang, được cả thế giới khâm phục cũng bởi vì thế.
Ngoài ra, người Nhật bản còn rất nhiều nét văn hóa đáng học hỏi khác như: văn hóa nói không với trộm cắp, văn hóa giao tiếp,...

Vì sao người Nhật không thể nói anh yêu em?

Vì sao người Nhật không thể nói anh yêu em?

Thời gian đăng: 28/03/2017 14:34
Động đất, sóng thần chẳng thể quật ngã ý chí kiên cường của người Nhật nhưng chỉ nghĩ đến việc nói Anh yêu em đã làm cho đấng mày râu nơi đây thẹn thùng xấu hổ. Tại sao lại như vậy?
 
người nhật không nói anh yêu em
 
Anh yêu em hay em yêu anh là những câu nói hết sức ngọt ngào mà các cặp đôi ngày nay thường trao cho nhau. Họ coi đó là một phương thức dễ dàng nhất để thể hiện tình cảm của mình với đối phương và sử dụng chúng thường xuyên. Âý vậy mà ở Nhật Bản, người ta rất hiếm khi nhắc đến cụm từ Aishiteiru ( nghĩa tương đương với anh yêu em ) với vợ chồng hay những người họ yêu thương. Nếu như bạn mới tìm hiểu về văn hóa Nhật thì chắc rằng bạn đang rất ngạc nhiên, tuy nhiên điều này đối với người Nhật mà nói nó mang một ý nghĩa thiêng liêng và nếu bạn biết được sẽ chỉ thêm phần quý mến con người nơi đây mà thôi.
 
người nhật không nói anh yêu em

Dù có yêu nhau đến mấy người Nhật cũng hạn chế nói Aishiteiru

 
Đa phần mọi người đều biết rằng người Nhật khá kém trong việc biểu lộ tình cảm, cảm xúc, rất khó trong việc thể hiện sự quý mến đối với người khác đặc biệt là người khác giới. Trong khi đó, từ Aishiteiru là một từ mang nghĩa khá mạnh mẽ, quyết liệt, tạo cảm giác áp lực cho người nghe. Trong mối quan hệ tình cảm, " Aishiteiru " hay còn mang nghĩa " yêu " tạo cho người ta cảm giác nặng nề, sức nặng của nó gần như một lời cầu hôn, nếu chưa xác định thật chắc chắn người Nhật sẽ không dùng đến từ này. Ở  một thời điểm thích hợp, khi gặp được một người thích hợp đến mức coi đó là định mệnh thì người Nhật Bản mới thốt lên " Aishiteiru".

>> Nhật Bản - đến thang máy cũng lịch sự

 
Vì vậy mà người Nhật tỏ ra vô cùng cẩn trọng khi quyết định nói từ này, thay vào đó họ sẽ sử dụng một từ có ý nghĩa nhẹ nhàng hơn "Suki". Từ " suki " có nghĩa là thích, một tình cảm đẹp, đáng chân trọng. Thay vì dễ dàng buông câu Aishiteiru và bị cho là đùa giỡn, không thật lòng, bạn hãy thử nói từ Suki, kết quả sẽ khác hoàn toàn đấy.
 
người nhật không nói anh yêu em
Thay vì Aishiteiru hãy nói Annata ga Suki

 
Ngoài ra, một điều bạn nên biết đó là người Nhật thường thể hiện tình cảm bằng hành động thay vì lời nói. Nếu muốn biết một người Nhật có thích bạn hay không chỉ cần để ý tới ánh mắt, cử chỉ quan tâm thay vì đợi người ta nói Aishiteiru nhé.

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

Bà lão điên vừa đi vừa hát lời kỳ quái, không ngờ về sau tất cả đều ứng nghiệm

Bà lão điên vừa đi vừa hát lời kỳ quái, không ngờ về sau tất cả đều ứng nghiệm

Chia Sẻ
0
Xưa nay, vốn có không ít những câu chuyện về bà lão, ông lão điên điên khùng khùng nhưng lại có những dự đoán về số kiếp và tương lai chuẩn xác đến kinh ngạc. Dưới đây là một câu chuyện được lưu truyền ở vùng quê nọ.
Chuyện xảy ra cách đây từ hơn 50 năm về trước. Có một bà lão nọ sống ở giao lộ trong thôn, lúc đầu rất ít người biết đến bà ấy, chỉ biết bà họ Phùng, nên mọi người thường gọi là bà Phùng. Nửa năm trôi qua, không biết xảy ra chuyện gì, bà lão từ một người đang yên lành lại trở nên điên loạn, chống gậy đi lang thang khắp nơi trên đường, đi đến đâu, ca hát đến đó. Không một ai biết bà đang hát cái gì, cũng có những kẻ nhàn rỗi, lấy bà ra làm trò cười, đôi lúc hỏi bà hát cái gì, đôi lúc lại trêu chọc bà.
Về sau mọi người dần dần phát hiện, những ca từ nghe không rõ của bà giống như đang dự đoán trước một số chuyện, từ đó, người biết đến bà càng ngày càng nhiều hơn. Khi nhìn thấy bà, họ đều nói:“Này, bà Phùng lại đến giao lộ ca hát rồi”.Mọi người trong thôn thuận miệng gọi, cuối cùng lại gọi bà thành “bà lão điên”.
Người ta nói rằng, mọi người biết bà có thể dự đoán được chuyện trong tương lai là vì một chuyện: Mùa hè năm ấy, nhà Phượng Tử bị mất gà, mà người trộm chính là hai đứa con trai hư hỏng nhà Vương Nhị. Ai cũng biết, hai đứa trẻ này cả ngày không có gì làm, việc trộm gà chỉ có chúng làm ra, chỉ là nể mặt thể diện của người lớn và tình làng nghĩa xóm, cho nên không ai nói gì, nhà Phượng Tử cũng làm như không có chuyện gì.
Ngày thứ hai, bà lão điên lại đến trước nhà Vương Nhị vừa khóc và hát:“Những con gà kia mau trở về, đừng làm hại người ta”. Tuy nhiên, lại không mấy ai nghe rõ bà đang hát cái gì. Có người chỉ nghe được loáng thoáng mấy chữ “những con gà kia mau trở về”, còn có “người ta”. Bởi vì lúc đó không ai biết bà lão điên đang kêu khóc điều gì, cho nên cũng không ai rảnh mà đi nghe kỹ. Chỉ có những đứa trẻ chơi đùa gần đó mới nhìn thấy bà vài lần, cũng hát theo lời của bà giống như một trò vui đùa.
Bà lão điên đi khắp mọi nơi, hát những câu hát không ai hiểu, nhưng sau lại ứng nghiệm vô cùng. (Ảnh: Tibettravel)
Không biết có phải là trùng hợp hay không, tối ngày hôm đó, con trai lớn nhà Vương Nhị bị hóc xương gà trong cổ họng. Người nhà vốn nghĩ hóc xương không phải chuyện gì lớn, chỉ cần ăn vài miếng khoai đỏ luộc là có thể nuốt xuống, không ngờ rằng mấy miếng khoai đỏ này lại khiến một người đang sống bị mắc nghẹn đến chết.
Còn có một lần, nhà của Lão Hà trong thôn bị mưa dột, ông leo lên sửa mái nhà, bị “bà điên” nhìn thấy, bèn nói to với ông:“Không phải mái nhà bị rò rỉ, là rò rỉ dưới đáy nồi”. Lão Hà cũng không thèm để ý bà, chỉ thuận miệng “ừ” vài tiếng. Không ngờ mấy ngày sau, ông nhìn thấy con trai lén lút múc gạo, thì ra cậu con trai giấu mọi người đi đánh bạc, thua lại không dám nói cho người nhà, liền hứa với người ta dùng gạo trả nợ. Những lời của bà lão hầu như đều trở thành sự thật.
Những người trong thôn kể rằng, nhiều năm như vậy bà đều đi đi lại lại, nói vài câu, không biết nói cho ai nghe, bây giờ nghĩ lại thì giống như là lời dự đoán vậy. Bởi vì bà đều gặp người mới nói, ca hát trên đường, cũng có thể vài câu trong đó là tùy ý hát chơi, những lời mà bà nói, qua nhiều năm như vậy không thể nào nhớ hết, nhưng đại khái là những lời như sau:
“Văn nhân một thanh đao, huynh đài một thanh cung, lấp đầy một giếng nước, không còn có đồng bằng”.
“Đục hoà lẫn trong, trong hòa lẫn đục, cũ biến thành mới, khai nguyên hoán thiên địa”.
“Ngựa không có móng, chim Nhạn không lông, trăm nạn đều tụ họp, tai họa khắp bốn bề”.
“Ban ngày như ban đêm, mặt trời biến thành mặt trăng, trời đất tối tăm, đất động núi rung lắc, tất cả đều có nguyên nhân trước, tai nạn khó mà dừng”.
“Mặt trời lặn hướng Đông, đuốc được đốt cháy, quân thần điên đảo, không gạo không lương thực”.
“Nên lui đều đã lui, nên tiến cũng tiến rồi, pháo hoa bắn tứ phía, chiến tranh ở tám phương, ở lại thì đi không được, đã đi rồi thì là phúc đức, đối diện mây trắng không thấy người, phía sau núi rỗng là tai họa”.
“Hoa đỏ đều úa tàn, hoa vàng đều nở rộ”.
“Không làm việc tốt, làm việc ác khó chạy, ca hát uống rượu không ngừng, quần hùng là anh hào, ngôi sao rơi, thì không chiếu sáng, bèn theo cùng những người may mắn”.
“Thiên Lôi đánh một tiếng kinh hoàng, hận tạo hóa đùa bỡn, gió thổi nước dâng, hoả thiêu, thanh tẩy những vật thối rữa, kẻ ác không thể trốn thoát, người tốt sẽ trường tồn”.
“Lũ quỷ nửa đêm xuất hiện, mắt đẹp mê hoặc, muốn che đậy trước tiên phải bọc kỹ, trời gần sáng thì không còn nữa”.
Bà Phùng đã nói đúng người ăn trộm gà và cái giá anh ta phải trả. (Ảnh: Alarabiya)
Người trong thôn chỉ có thể nhớ được mấy lời như vậy, thật ra người ta nói rằng lúc còn sống bà nói rất nhiều, nhưng cũng có rất nhiều lời chỉ nói vài lần, không có người chú ý, cũng không còn ai nhớ.
Từ trước đến nay, những trường hợp như ‘bà lão điên’ thế này có rất nhiều, họ có lẽ đang muốn cảnh báo chúng ta điều gì đó, hoặc truyền thông điệp nào đó đến thế nhân. Những lời nói ấy, bạn có nghe được hay không, dẫu có tin hay không tin, cũng đều đáng khiến chúng ta suy ngẫm.
Thời thế đổi thay, cuộc sống đang ngày càng đảo lộn, sự kiện biến hóa trong thế gian ngày một nhiều, thiên tai nhân họa tới liên tiếp. Chúng ta đang chờ đợi điều gì, tìm kiếm điều chi? Giữa Thiện và ác, giữa đục hòa lẫn trong, hết thảy đều phải đối diện và lựa chọn đúng đắn!
Theo NTDTV
Khải Phong biên dịch